20. Sáu Thu (Truyện ngắn)
Sáu Thu
Trừ Thánh lễ buổi xế trưa Chúa nhật, người đàn bà đó luôn luôn đến trễ, có những lần tôi thấy chị xuất hiện tại cửa nhà thờ khi Thánh lễ đã gần kết thúc: Buổi chiều thứ Bảy, buổi chiều thứ hai, buổi chiều thứ ba và hôm nay. Hôm nay sau Thánh lễ, chị đi tìm gặp tôi...
*
Tính theo lịch hằng năm, bây giờ đã phải là mùa mưa, nhưng sao năm nay mưa đến muộn ...
Tưới được ướt hết đất mấy luống rau xanh hằm bà lằng dăm bên cạnh cái chái bếp xiêu vẹo gần muốn đổ xuống xong là mặt mày tay chân tươm mồ hôi nhỏ xuống từng giọt. Chiếc áo bà ba dễ chừng đã đóng từng mảng mồ hôi muối dính vào lưng nhơm nhớp, trượt qua kéo lại trên mảng da lưng khi hai cánh tay quơ qua quơ lại với bình nước tưới. Chắc giờ này cũng phải cỡ chừng bốn năm giờ chiều rồi chứ không phải còn sớm sủa gì nữa đâu. Nãy giờ bận tưới rau quên không theo dõi nghe tiếng ve kêu.
Nhớ lại cách nay mấy bữa, mất kiên nhẫn với những cơn mưa dáng chừng đã phải có theo chương trình của mình, Sáu Thu về nhà nghi ngờ lật qua lật lại tờ lịch của Công Ty Hoàng Lan tặng kỳ tết Nguyên Đán sau bữa nói chuyện với ông Chín Giống mới chắc ăn năm nay là năm nhuận với hai tháng tư ta thành ra mùa mưa chưa đến.
Hồi xưa còn nhỏ, dù là con nhà nghèo vùng quê tản cư chạy giặc như cơm bữa, Sáu Thu cũng có được ông bà nội cho cắp sách đến trường vài năm, học hành chút đỉnh cho biết chữ biết nghĩa với người ta. Ông bà nội Sáu Thu nghèo xơ nghèo xác, cơm không đủ ăn, nhưng đi học thì thích nhứt vì Sáu Thu thông minh mà lại nhớ dai nữa, mấy ông thày giáo dạy là khi nào năm nhuần mới có hai tháng âm lịch, mấy thày còn dạy nếu muốn biết năm nào là năm nhuần thì cứ việc lấy hai con số cuối của năm đó cộng lại, nếu chia chẵn cho bốn thì năm đó là năm nhuần.
Sáu Thu còn nhớ như in trong đầu hình ảnh thày giáo quê cầm cục phấn trắng viết những con số thật đẹp trên tấm bảng đen loang lổ những vết sứt sẹo, treo xiêu vẹo trên vách tường đất. Nếu tính theo trí nhớ của Sáu Thu như vậy thì sai bét vì năm nay là năm 2001, làm sao chia chẵn chòi cho con số bốn được. Vậy đó, mà năm nay có hai tháng tư ta. Lịch lạc in hẳn hòi chứ không phải chỉ có lời nói xuông của ông Chín Giống.
Ông già Chín coi vậy mà hay thiệt, điếc không nghe thấy một tiếng chó sủa mà chuyện gì cũng am tường ráo trọi. Chòm xóm, con cái không ai cãi lại hay bắt bẻ ông Chín hết. Người ta nói là ông Chín sống nhờ kinh nghiệm. Chín mươi hai tuổi rồi còn gì. Sanh ra lớn lên, trải qua bao thời chiến tranh giặc giã, đi ngang đi dọc giang hồ nam bắc, rồi cuối cùng trở về quê cha đất tổ, nơi chôn nhau cắt rún với hai bàn tay không, hội ngộ với người vợ già đảm đang chất phác và những đứa con đứa cháu quê mùa mộc mạc.
Ông Chín Giống thứ chín, ba của Sáu Thu là Út. Thứ Mười thì kêu là Mười, còn thứ Mười Một thì kêu là Mươi. Người ta kêu thân phụ của Sáu Thu là Út Mươi. Mười anh chị em cả thảy, Ông Chín sống dai nhứt trong họ hàng. Ông Chín tự hào cho rằng ông đi nhiều, hiểu nhiều chuyện, biết nhiều bí quyết để sống đời. Ai mà cãi lại ông Chín đâu, mà cũng không ai cãi với ông Chín vì mấy năm gần đây, ông điếc nòi điếc nổ, không có một âm thanh nào lọt qua hai lỗ tai (mấy đứa con nít thường khi tầm phào nói hai lỗ tai ông Chín coi như đã được trám bằng bê tông loại xuất khẩu).
Người không biết chuyện sẽ bắt tức cười khi thấy ông Chín ở trần cùi cụi, xương sống xương sườn bành bạnh bọc bằng một lớp da mỏng lét ngăm đen nhăn nhúm ngồi đong đưa chân cẳng trên chiếc võng rách đầu hiên nhà lên tiếng kêu hét mấy đứa cháu chắt nào là tới giờ đi học, tới giờ nấu cơm, tới giờ ăn cơm, tới đủ các thứ giờ: 'Tụi bay làm gì mà hổng nghe mấy con ve đang đại náo cùng hết, nhớ lời tao nói mà thuộc nằm lòng nha - lần ve kêu thứ nhứt là nhúm lửa, lần ve kêu thứ hai là ăn cơm vừa dứt... Có lần mấy đứa cháu giỡn với nhau: Ông Chín điếc đâu nghe được tiếng ve kêu mà ra lệnh lạc um sùm. Mà thiệt, Ông Chín chẩn đoán về tiếng ve kêu chỉ trật vài ba phút thôi, lần nào cũng vậy. Ông Chín nói ve kêu là ve kêu, làm như ve cũng hiểu lời ông Chín, mỗi lần ông Chín nói ve kêu nó kêu để ông Chín đừng buồn.
Sáu Thu khoát tấm khăn rằn ri choàng quanh cổ láp nháp ướt lau sơ mồ hôi rồi bước chân lên ngưỡng cửa nhà. Thật ra nếu gọi đó là ngưỡng cửa một căn nhà thì cũng hơi quá đáng, mà nếu không gọi là căn nhà thì cũng không biết gọi là gì, vì đó là nơi tá túc, ngủ nghỉ và là nơi cất giữ tất cả những gì Sáu Thu có: tài sản, đồ đạc, áo quần tư trang và một chút tiền bạc, tất cả đều được giữ trong đó, trong những ngăn tủ xộc xệch, xiêu vẹo mất hình dáng. Ban ngày đang làm lụng đầu tắt mặt tối dưới ánh nắng gay gắt của ngày nắng, hay để chạy trốn một cơn mưa vô tình không báo trước, Sáu Thu chạy vô nhà ngồi ghé mông trên mép chiếc giường nghỉ dăm ba phút. Mấy bữa trời mưa lớn không làm được chuyện gì ngoài trời, Sáu Thu cũng bước vào nhà gom lại ba cái ghế ọp ẹp tìm khoảng trống móc cái võng dăng ngang hai cây cột chống ngồi đong đưa chờ ông trời mưa dứt hạt...
Sáu Thu ở căn nhà này như vậy là cũng gần hai mươi năm rồi, từ hồi trước chiến tranh, từ hồi cha thằng Đông còn sống, mà cũng chính cha thằng Đông là người đã đổ mồ hôi trong những ngày nghỉ phép lính để cất căn nhà này trên miếng đất chòi của ông bà ngoại thằng Đông khi hay tin Sáu Thu cấn thai đứa con đầu lòng, gần một năm sau ngày cưới.
Tội nghiệp, khi thằng Đông được gần một tuổi chập chững bước chân thì ba nó chết, lúc đó Sáu Thu mới tròn hai mươi. Tự nhiên Sáu Thu thở dài nghĩ tới cảnh mẹ góa con côi trong suốt gần hai mươi năm trời ròng rã.
Chiến tranh, rồi hòa bình...
Thời buổi chiến tranh thì bận chạy giặc, bận lo cho cha mẹ chồng, bận nuôi dạy đứa con thơ mồ côi cha sớm, bận chia sẻ những lo lắng của hàng tá những bà con chú bác cô dì chạy loạn chạy lạc, tang chồng, tang con. Hình như không năm nào trong đám bà con họ hàng của Sáu Thu lại không có một vài đám tang: người ta chết già, chết bệnh, chết trận, bên này, bên kia... Bầu bạn của Sáu Thu cũng là những góa phụ tuổi đang còn trong thời kỳ xuân sắc với con cái tay bồng tay bế cưu mang.
Rồi hòa bình đến, người ta bảo thời kỳ thắt lưng buộc bụng để xây dựng tái thiết đất nước bắt đầu. Không còn lính, không còn quân, không còn công chức tư chức, nhiều gia đình không biết bao năm phương trời lưu lạc, nay bồng bế nhau ùa về làng tìm nhà tìm cửa, tìm công ăn chuyện làm. Người đẻ ra người nhiều thêm, nhưng ruộng đất không biết đẻ, cây cối tự nhân giống có hạn, ruộng vườn trở nên hiếm quý, đất đai trở thành chật chội khô cằn, miếng cơm manh áo hiếm dần với số người gia tăng chen chúc kiếm sống, kiếm ăn.
Rồi cũng quen với nếp sống mới, người ta không còn se sua quần là áo lụa, người ta không còn thi nhau xây cất nhà cao cửa rộng, người ta chỉ cần đủ ăn đủ mặc. Tình nghĩa làng xóm láng giềng, thân bằng quyến thuộc bỗng chốc trở thành một món ăn tinh thần gần gũi không thể thiếu. Người ta gần nhau hơn, người ta quí nhau hơn, gần nhau, quí nhau hơn vì không còn gì khác để chia sẻ trong gia đình hay thể hiện ra ngoài xã hội, trong cuộc đời.
Mấy năm gần đây cuộc sống có vẻ như được thoải mái hơn. Riêng với Sáu Thu thì đời sống thoải mái hơn thật, kể từ khi thằng Đông kiếm được việc vừa học nghề vừa làm có đồng lương từ hồi đầu năm ngoái. Dầu sao thì Sáu Thu cũng không còn phải lo cho nó từ miếng cơm manh áo như trước nữa. Nhiều lúc đang cuốc đất trồng rau hay đi hái măng mướn, Sáu Thu để hồn đâu đâu, nghĩ tới chuyện lợp chống lại căn nhà rách vách đang muốn sập, nghĩ tới chuyện dành dụm một món tiền nhỏ chờ ngày nói vợ cho thằng Đông. Năm nay nó cũng hơn hai mươi tuổi rồi, cũng nghe nói nó có cặp bồ cặp bạn lăng nhăng với mấy đứa con gái mới lớn đầu xóm. Tụi trẻ bây giờ không còn giống như thời chị còn là con gái. Mười tám tuổi rồi mà lúc đó chị có biết gì đâu, cho tới khi được tin ba thằng Đông đánh tiếng mối mai.
Mấy năm đầu sau khi ba thằng Đông chết, Sáu Thu nhiều lúc cảm nhận được nỗi cô đơn lặng lẽ của chính mình. Nỗi cô đơn thiếu vắng, tưởng chừng phải có như đám nước trụ nơi vùng đất trũng, sau gần hai năm với những cơn mưa rào ân ái của thời gian vợ chồng. Những đêm dài cố dỗ giấc ngủ trong cô đơn cô độc, có lúc Sáu Thu nhận thấy có một ao ước thầm kín tự đáy lòng: thèm một vòng tay, thèm một hơi ấm của một người đàn ông. Ở những giây phút hoang đàng như thế, trong bóng tối dày đặc của đêm đen, Sáu Thu đã đỏ mặt xấu hổ ghì chặt đứa con nhỏ vào lòng với hình ảnh đáng yêu sống động của 'cha thằng Đông' (Sáu Thu vẫn gọi như thế một cách âu yếm mỗi khi nhắc tới người chồng quá vãng với gần hai năm chung sống)
*
Khoảng gần một chục năm sau ngày 'cha thằng Đông' chết, Sáu Thu gặp Út Tân.
Một buổi nọ gần tết Đoan ngọ tháng năm ta, Sáu Thu đi hái măng mướn, hái xong chủ vườn nhờ đem măng đếm cho sạp bán măng nằm dọc theo cây cầu ngang trước cửa nhà thờ. Khi đem măng tới đếm, Út Tân đang nhâm nhi cà phê ở quán cà phê bên cạnh sạp bán măng. Một lời nói qua, hai lời nói lại, buổi tối về nhà Sáu Thu thấy chợt buồn chợt vui. Sáu Thu lục tìm trong mớ băng nhạc bụi bặm một băng nhạc cũ gắn vào cái máy cassett nghe mấy bản nhạc tình cảm hồi xa xưa và trằn trọc suốt đêm với những giấc mơ không có đoạn kết.
Kể từ buổi tối hôm đó Sáu Thu nghĩ tới chuyện để thằng Đông ngủ riêng trên chiếc chõng tre kế bên cửa sổ - nó cũng gần mười tuổi rồi còn gì. Và cũng kể từ hôm đó, biết rằng mẹ Út Tân ngoan đạo, khó tánh, Sáu Thu bắt đầu nghĩ tới chuyện đi nhà thờ...
Sáu Thu không biết gì nhiều về Út Tân. Nghe loáng thoáng người ta kể rằng Út Tân đã bỏ gia đình theo giúp một ông cố đạo đi truyền giáo từ hồi còn để chỏm, nhưng mấy chục năm sau khi cha mất, anh chị em lập gia đình ra riêng hết, Út Tân trở về bên người mẹ già chấm dứt cuộc đời lang bạt. Không biết con đường gia thất của Út Tân thế nào trong những năm xa quê, nhưng khi trở về bên mẹ già, Út Tân không tỏ vẻ gì có 'vướng bận giang hồ'.
Ở nhà quê người ta bén nhạy lắm, chỉ một tuần sau là có lời qua tiếng lại về mối tình của Sáu Thu và Út Tân: Trai giang hồ gặp gái góa bụa. Một tháng sau đó Sáu Thu bắt đầu lui tới thăm nom bà mẹ Út Tân. Thằng Đông lâu lâu có quà có bánh.
Sáu Thu lui tới nhà Út Tân lo việc nội trợ. Căn nhà được bàn tay người đàn bà trẻ chăm sóc có vẻ tươm tất hơn. Út Tân cũng lui tới nhà Sáu Thu, sửa lại cái bàn, kê lại cái tủ... Tình cảm hai người trong sáng, tình trong như đã, mặt ngoài còn e.
Năm tháng sau ngày hai người quen biết, Sáu Thu bắt đầu học đạo. Đối với làng trên xóm dưới thì chuyện của hai người coi như đã xong. Đối riêng với hai người thì một vài vấn đề cần được dung hòa: Thằng Đông kêu Út Tân bằng 'ba' không ngượng nghịu (cũng từ đó, mỗi lần Sáu Thu nhắc tới ông chồng hờ, Sáu Thu cũng vẫn kêu Út Tân là 'cha thằng Đông'). Chuyện gia nhập đạo và đi nhà thờ hàng tuần, rồi hàng ngày Sáu Thu tuân thủ không chạy một ly. Chỉ có một vấn đề khó đó là Sáu Thu không ưng gom thằng Đông dọn về nhà Út Tân làm dâu vì mẹ của Út Tân quá khó tánh, khổ cho mình rồi khổ cho con. Hai người sống ở hai căn nhà cách hai đầu con rạch ở giữa là khu chợ nhộn nhịp ồn ào.
Vấn đề càng trở nên nan giải hơn là Sáu Thu nghĩ rằng mình không làm dâu được và cũng không dám hé môi nói với ai, kể cả Út Tân vì vấn đề là ... không có cách giải quyết. Út Tân vẫn ở nhà với mẹ, Sáu Thu vẫn sống riêng với thằng Đông, lâu lâu đến thăm dọp dẹp nhà cửa. Việc thăm viếng càng ngày càng thưa vì tánh tình của bà cụ khó khăn. Đã có lần Sáu Thu nghe người ta nói lại rằng bà cụ không muốn con mình là trai tân lấy vợ là đàn bà goá đã có con cái. Một hai tuần 'cha thằng Đông' ghé thăm mẹ con Sáu Thu, ăn một bữa cơm, ở lại một buổi chiều, có khi ở lại qua đêm.
Cuộc tình đã trải qua biết bao thăng trầm với thời gian. Có những lúc Sáu Thu muốn bỏ hết, quên hết để quay về cuộc sống mẹ góa con côi. Nhưng mấy lúc sau này, nhất là từ ngày thằng Đông ngủ đêm lại trên chợ để coi cửa tiệm cho chủ thì những ngày những đêm của Sáu Thu trở nên bất thường.
Nhác nhìn lên tấm lịch treo tường, năm nay là năm con rắn, thằng Đông hai mươi hai tuổi, Sáu Thu đã bước vào tuổi bốn mươi ba. Một tiếng thở dài với ánh mắt nhìn mông lung vào khoảng không gian trước mặt, Sáu Thu tự hỏi không biết 'cha thằng Đông' bữa nay có ghé về thăm không.
Mùa này là mùa mưa, mới hơn bốn giờ chiều mà trời như đã tối. Có tiếng xe gắn máy chạy qua cầu mé bên rạch, Sáu Thu lắng tai nghe, cúi xuống quay mắt nhìn vào khoảng không của căn nhà thiếu ánh sáng nói thầm: tiếng xe này không phải là tiếng xe của 'cha thằng Đông' và Sáu Thu thấy sao căn nhà hôm nay bỗng dưng trống trải lạ lùng.
*
Buổi chiều hôm sau, chị Sáu Thu đến nhà thờ khá sớm trước giờ lễ, chị tìm vào nhà Xứ nhỏ nhẹ lên tiếng biếu tôi một trái sầu riêng và một chục măng.
bdt