Tòa Án Hôn Phối & Tháo Gỡ Hôn Nhân
Phần Giới thiệu
Thân tặng những anh chị em đang sống trong những hoàn cảnh gia đình đáng thương, tội nghiệp.
Chúa vẫn gửi đến anh chị em cùng một phép lành Chúa gửi đến những người khác.
bđt.
Tập sách này được thực hiện với hai mục đích:
1. Trình bày một lối thoát có thể, cho những người Công Giáo đang bị vướng mắc trong những hoàn cảnh hôn phối tan vỡ không còn hy vọng hàn gắn.
2. Giúp cho những người Công Giáo đang âu lo sống trong các "gia đình thứ hai", một cách thế có thể, để thực hiện Bí Tích Hôn Phối một lần khác.
Giới thiệu
Tòa án Công Giáo là tòa án thành lập bởi Giáo Hội theo Giáo Luật để phân xử những tranh tụng liên can đến những việc thiêng liêng hay những vấn đề liên hệ với những việc thiêng liêng. (c.1401)
Sẽ có nhiều người không đồng ý với tác giả về đề tựa và nội dung của tập sách này. Ðiều đó tác giả đã ước đoán và chuẩn bị để chấp nhận. Nhưng trước khi đi sâu vào vấn đề, tác giả mong ước được chia sẻ những khổ tâm, những cay đắng và những chịu đựng với các thành viên của những gia đình tan vỡ, cũng như với phụ huynh và những người thân thuộc của họ, vì dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, Giáo Hội cũng không bỏ quên họ. Tác giả muốn họ hiểu rằng: Giáo Hội qua hệ thống Tòa A¨n Hôn Phối có thể giúp đỡ họ giải quyết vấn đề khúc mắc gia đình họ đang có bằng việc tháo gỡ hôn phối họ đang vướng mắc và bận tâm.
Những người không đồng ý với tác giả sẽ có lý do riêng của họ: giả như họ cho rằng việc tháo gỡ hôn phối dù bằng cách nào đi nữa, sẽ làm mất giá trị cao vời của yếu tố vĩnh hôn trong Giáo Hội Công Giáo từ ngàn xưa; họ cũng có thể cho rằng nếu một người "làm" được thì rồi nhiều người cũng sẽ làm được, như thế, cuối cùng hôn nhân Công Giáo cũng không khác gì các cuộc hôn nhân khác...
Như chúng ta đang thấy, bên cạnh sự đau khổ về việc gia đình tan vỡ, những người vợ, những người chồng kém may mắn này còn phải chịu đựng thêm những khổ đau khác: mặc cảm thua kém, tội lỗi vì đã không tạo được một gia đình hạnh phúc, vì đã làm mất tình yêu "Chúa định" cho họ trong hôn nhân v.v... Chưa kể những cấm đoán của luật lệ cho những người "phạm luật" và sự xa lánh của những người chung quanh.
Tập sách này trình bày một cách ngắn gọn về cơ cấu tổ chức của tòa án, về cách phân xử, về những thủ tục cần thiết cho một vụ tranh tụng hôn nhân. Bên cạnh đó, tác giả cũng thêm một vài chia sẻ thiêng liêng, cũng như ý nghĩa của đời sống hôn phối với các đôi bạn và với những ai đang muốn tìm hiểu thêm về khế ước hôn nhân trước khi thực sự dấn thân vào đời sống gia đình.
Tác giả mong ước được các vị cao niên, trưởng thượng và các nhà chuyên môn góp ý trong phương thức trình bày và nội dung của tập sách này.
Xin Chúa chúc lành cho chúng ta.
oooOOOooo
ÐÔI DÒNG LỊCH SỬ
Ngay từ khởi thủy, trong sinh hoạt chung như một cộng đồng xã hội, Giáo Hội đã đóng vai trò hòa giải những xung đột không thể tránh được, xảy ra giữa những tín hữu sống chung với nhau. Một trong những loại xung đột đó là loại xung đột liên hệ đến vấn đề hôn phối. Trong thư Thánh Phaolô gửi cho tín hữu Corintô đã đề cập đến một trường hợp hôn phối loạn luân (incestuous) và quyết định trục xuất người đàn ông đó ra khỏi cộng đồng Giáo Hội (1Cor.5,1-13).
Trường hợp đã được đề cập này, chắc chắn không phải là trường hợp duy nhất Giáo Hội đã phải đứng ra hòa giải. Cho nên, năm 314, Công Ðồng Chung Ancyra đã ra một đạo luật trừng trị nghiêm khắc những người liên hệ trực tiếp vào những trường hợp hôn phối loạn luân.
Gratian, một luật gia nổi tiếng của Giáo Hội, đã lưu lại trong Bộ Luật của ông nhiều trường hợp hôn phối đã được các Ðức Giáo Hoàng và các Thánh Giáo Phụ phân xử. Nhiều trường hợp hôn phối cũng đã được các tòa án hôn phối giải quyết trong lãnh vực địa phương. Ðến thế kỷ XII, đã có những nguyên tắc rõ ràng qui định những giai đoạn cần thiết để phân giải một trường hợp hôn phối tại tòa án của Giáo Hội. Tuy nhiên, theo Ðức Giáo Hoàng Innocentê III, cho đến năm 1198, nhiều giáo phận vẫn chưa áp dụng những qui luật này.
Năm 1311, Ðức Giáo Hoàng Clementê V, trong sắc lệnh Dispendiosam đã truyền rằng: Các trường hợp hôn phối phải được xét tại tòa án một cách đơn giản và mau lẹ, tránh những rườm rà, phức tạp của thủ tục pháp lý (simpliciter et de
Vào thế kỷ thứ XVI, Công Ðồng Chung Trentô ấn định rằng các Linh Mục giáo phận (dean) và các Phó Giáo Chủ (archdeacon) từ nay không được tự mình xét các trường hợp hôn phối nữa. Tất cả những trường hợp hôn phối nếu có phải được chấp hành qua một thủ tục pháp lý và Bản Quyền địa phương là người phán quyết kết quả sau cùng của những tranh tụng hôn phối đó.
Dù đã được ấn định phải qua một thủ tục pháp lý, nhưng chính thủ tục pháp lý đó không rõ ràng, cho nên xảy ra quá nhiều lạm dụng, thậm chí có những người đã được tháo gỡ hôn phối tới lần thứ ba, lý do là vì không có người Bảo Hệ (defender of the bond), cũng không có Tòa Kháng A¨n (Appelate court) để duyệt xét quyết định của các Thẩm Phán.
Hiến Chế Dei miseratione, do Ðức Giáo Hoàng Benedictô XIV ban hành ngày 3/11/1741 chấm dứt tình trạng hỗn loạn này. Hiến Chế qui định rằng mỗi giáo phận phải chỉ định một người Bảo Hệ để bênh vực cho dây hôn phối và chính người Bảo Hệ này phải xét lại quyết định của Tòa A¨n xét ở cấp thứ nhất quyết định tháo gỡ một trường hợp hôn phối.
Một thế kỷ sau đó, Thánh Bộ Công Ðồng phát hành một Bản Dẫn Giải Cum Moneat, giải thích, hướng dẫn áp dụng Hiến Chế Dei miseratione. Một bản dẫn giải khác Causa Matrimoniales được ban hành bốn năm sau, năm 1884, hai bản dẫn giải này có giá trị cho đến khi Bộ Giáo Luật đầu tiên của Giáo Hội ra đời: năm 1917.
Ðiều luật 1576 của Bộ Giáo Luật 1917 qui định rằng: Một trường hợp hôn phối phải được thẩm định do ba thẩm phán. Tất cả những qui định trái với điều luật này đều phải được bãi bỏ. Những qui định về Cơ cấu, thẩm quyền Tòa A¨n, quyền tố tụng của các nguyên cáo, cách thức thu thập chứng cớ v.v...đều được xác định rõ ràng.
Năm 1936, sau gần 20 năm áp dụng, Tòa Thánh nhận thấy hoạt động của các Tòa A¨n địa phương đã không đạt được nhiều kết quả. Lý do là vì những qui định của Giáo Luật quá khó khăn, không thực tế. Ngày 15/8/1936, Tòa Thánh phát hành một bản dẫn giải Provida Mater giải thích 33 điều luật trong Bộ Luật 1917 (từ điều 1960 đến điều 1992) về cơ cấu, thẩm quyền, nhân sự, cách áp dụng luật khi phải phán xử những trường hợp hôn phối để giúp các Thẩm Phán đang làm việc tại các Tòa A¨n địa phương. Thoạt nhìn qua thì Bản Dẫn Giải khá thực tế, nhưng khi đi vào việc áp dụng thì Bản Dẫn Giải quá cứng nhắc và phức tạp. Như thế, thay vì trợ giúp, Bản Dẫn Giải lại ngăn cản, giới hạn thẩm quyền của các Thẩm Phán tại các Tòa A¨n địa phương. Cả ngàn những trường hợp hôn phối đã bị bỏ quên vì những khó khăn này.
Giáo Hội tại Hoa Kỳ đã đi tiên phong trong việc hóa giải các khó khăn này bằng cách trở lại với Sắc Lệnh Dispendiosam (1311): Ðơn giản hóa các thủ tục Tòa A¨n bằng Ðạo Luật American Procedural Norms.
Kết quả đã được nhìn thấy rõ ràng: Thập niên 1960, tại Hoa Kỳ có khoảng 5 triệu người công giáo li dị, nhưng chỉ có khoảng vài trăm trường hợp được giải quyết do Tòa A¨n Hôn phối. Ðến thặp niên 1970 (sau khi American Procedural Norms được ban hành), Hoa Kỳ có khoảng 6 triệu người công giáo li dị mà Tòa A¨n đã giải quyết được khoảnh 30,000 trường hợp.
Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI, ngày 28/3/1971 đã ban hành Tông Thư Causas Matrimoniales cho toàn thể Giáo Hội. Mặc dù Tông thư không có những qui định đơn giản và quá dễ dãi như American Procedural Norms của Giáo Hội Công Giáo tại Hoa Kỳ, nhưng cũng đã đơn giản hóa thủ tục Tòa A¨n Hôn phối của Giáo Hội trong những lãnh vực thẩm quyền, số thẩm phán trong một vụ kiện và đặc biệt là thủ tục ngắn gọn của Tòa Chống Án.
Tông Thư Causas Matrimoniales này đã được đưa vào Bộ Giáo Luật 1983. Tuy nhiên, bên cạnh từ ngữ Tố Tụng, Ủy Ban soạn thảo Bộ Giáo Luật còn nhấn mạnh vai trò mục vụ của các Thẩm Phán khi hành xử năng quyền, thẩm định về các trường hợp hôn phối trong các Tòa Án Hôn phối địa phương.
Lm.Jos.Bùi-đức-Tiến,
Thẩm Phán Tòa Án Hôn Phối Miền,
(Tổng Giáo Phận Melbourne & Tổng Giáo PhậnTasmania.)