Thủ Bản Giáo Luật - Các Dòng Tu, Tu Hội
4.5.6. Các tín hữu nói chung
- Trách nhiệm và quyền lợi của tín hữu
Từ ngữ tín hữu (Christifidelis), dùng để chỉ những người đã lãnh nhận Phép Rửa tội, không phân biệt họ là giáo sĩ hay giáo dân. Các tín hữu nói chung, có bổn phận, trách nhiệm và quyền lợi bằng nhau. Bổn phận, trách nhiệm và quyền lợi này bắt nguồn từ việc lãnh nhận Bí tích Rửa tội, gia nhập vào thân thể Đức Kitô, trở thành một phần tử của Giáo hội hữu hình trên trần gian.
- Sự bình đẳng giữa các tín hữu
Nhờ sự tái sinh trong Đức Kitô mọi tín hữu đều bình đẳng với nhau về phẩm giá và hành động. Nhờ sự bình đẳng này, các tín hữu cộng tác với nhau xây dựng thân thể Đức Kitô, tùy theo điều kiện và chức vụ riêng của từng người. (
Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân (Lumen Gentium) đề cập đến sự bình đẳng giữa các tín hữu trước khi đề cập đến các loại ơn gọi khác nhau: “Theo ý Chúa Kitô, có những người được chọn làm tiến sĩ, làm người phân phát các mầu nhiệm hay chủ chăn lo cho kẻ khác. Nhưng tất cả mọi người vẫn có bình đẳng thực sự, bình đẳng về phương diện phẩm giá và hoạt động chung để xây dựng thân thể Chúa Kitô. Thật vậy, nếu phân biệt những thừa tác viên có chức thánh với những thành phần khác của Dân Thiên Chúa thì sự phân chia này vẫn hàm chứa một sự hiệp nhất, vì chủ chăn và các tín hữu khác liên kết với nhau do những mối dây liên hệ chung. Các chủ chăn trong Giáo Hội noi gương Chúa phải phục vụ lẫn nhau và phục vụ các tín hữu khác. Phần các tín hữu phải sẵn lòng hợp tác với các chủ chăn và những người giảng dạy”Chúng ta tuy nhiều người, song là một thân thể trong Chúa Kitô, nên mỗi người chúng ta là chi thể của nhau.” (Rm 12, 4-5) (LG 32)
- Hiệp thông với Giáo Hội
Các tín hữu buộc phải luôn luôn duy trì sự hiệp thông với Giáo Hội, kể cả trong đường lối hành động.
Họ phải chuyên cần chu toàn mọi trách nhiệm đối với Giáo Hội hoàn vũ cũng như với Giáo Hội địa phương mà họ trực thuộc chiếu theo luật. (
Giáo luật đề cập đến thân thể Giáo hội như một cơ chế với ba yếu tố thiêng liêng: Tuyên xưng cùng một Đức tin; Lãnh nhận cùng những Bí tích và dưới sự lãnh đạo của một thủ lãnh duy nhất là Giáo Hội. Do đó, mọi tín hữu phải hiệp thông hoàn toàn với Giáo Hội, dù là giáo dân hay giáo sĩ, dù là tín hữu thường hay người được giao cho một trọng trách nào đó trong việc điều hành Giáo Hội. Điều luật 149 qui định: “Để có thể tiến cử vào một chức vụ nào đó, một tín hữu phải hiệp thông hoàn toàn với Giáo Hội và đủ khả năng, nghĩa là hội đủ các đức tính mà luật đòi hỏi.”
Một tín hữu được coi là hiệp thông hoàn toàn với Giáo hội sẽ bày tỏ sự vâng lời trước nhất là đối với Đức Giáo Hoàng, đấng đại diện Chúa Kitô và là đầu Hội Thánh, sau là Đức Giám mục Giáo phận, là đầu của Giáo Hội địa phương và cuối cùng là Cha Sở của họ, người được trao trọng trách về phần thiêng liêng của tín hữu ấy.
Sự vâng lời này được thể hiện với việc chấp nhận và tuân thủ các giáo huấn về đức tin và luân lý qua những Bề trên liên hệ tùy theo cấp độ phẩm trật trong Giáo hội.
Những tín hữu được rửa tội trong các giáo phái Kitô giáo khác cũng được thông hiệp vào thân thể Chúa Kitô, nhưng không hiệp thông ở mức độ hoàn toàn. Điều luật 205 qui định: “Được hiệp thông hoàn toàn với Giáo Hội Công giáo trên địa cầu này là những người đã chịu phép Rửa tội, kết hợp với Đức Kitô trong cơ chế hữu hình của Giáo Hội, tức là bằng những mối dây của việc tuyên xưng Đức tin, của các phép Bí tích và của việc cai trị của Hội Thánh.”