Thủ Bản Giáo Luật - Các Dòng Tu, Tu Hội
1. Tín hữu
Các tín hữu là những người nhờ phép rửa tội, được hiệp thân với Đức Kitô kết thành dân của Chúa và do đó, họ tham dự theo cách thế riêng vào chức vụ tư tế, sứ ngôn và vương giả của Đức Kitô. Tùy theo điều kiện sống của mỗi người, họ được kêu gọi thực hành sứ mệnh mà Thiên Chúa đã giao phó cho Giáo hội chu toàn trong thế giới.
Giáo hội này, được thiết lập và tổ chức như một xã hội ở trong thế giới, tồn tại trong Giáo hội Công Giáo, được cai quản do người kế vị Thánh Phêrô và do các Giám mục hiệp thông với Người. (
Những người tin vào Chúa Kitô, dù là giáo dân, là giáo sĩ (những người có chức thánh) hay là tu sĩ, họ đều là những thành viên của Giáo Hội và đều được gọi là tín hữu. Một cách vắn tắt hơn, tín hữu là những người tin vào Chúa Kitô (Christifidelis). Bí tích Rửa tội họ đã lãnh nhận là mối dây nối kết họ thành Dân Chúa. Từ việc nhận lãnh Bí tích Rửa tội này, họ hiệp thân trong một nhiệm thể với Chúa Kitô, kết thành dân Chúa, cùng chia sẻ những năng ân Tư tế, Sứ Ngôn vàø vương quyền của Chúa Kitô. Thánh Phêrô đã viết: "Anh em là dòng giống được tuyển chọn, hàng tư tế vương giả, là dân riêng của Chúa" (1Phêrô 2, 9)
Cách diễn tả "những người tin vào Chúa Kitô" như là những "hội viên" của Giáo Hội bắt nguồn từ Tông huấn Mystici Corpus ban hành năm 1943 do Đức Giáo Hoàng Piô XII. Hai yếu tố cần thiết được nhìn thấy ở đây: (1) một con người có niềm tin và (2) một thực thể được gọi là Giáo Hội.
Khi đã là tín hữu, mọi người đều có bổn phận và quyền lợi bình đẳng như nhau. Trong sự bình đẳng này, không có sự phân biệt nam nữ. Riêng về Bí tích Truyền Chức Thánh, việc lãnh nhận hay được trao ban Bí tích này không phải là quyền của mọi tín hữu, nhưng là ý Chúa Kitô, Đấng Sáng lập Giáo hội. Do đó, một tín hữu muốn lãnh nhận Bí tích này cần phải đáp ứng hai điều kiện: (1) Ơn Thiên triệu và (2) sự đồng ý của Giáo Quyền.
Vì là thành viên trong một tổ chức có cơ chế hữu hình nên quyền lợi của một tín hữu có thể bị giới hạn hay triệt tiêu khi bị chế tài bởi luật lệ của tổ chức ấy. Trong trường hợp này, quyền lợi của một tín hữu bị Giáo luật chi phối (CIC can. 87).
Theo Bộ Giáo Luật 1917, Giáo Hội ở đây phải là Giáo Hội Công giáo và tất cả những người đã được rửa tội khi tuyên xưng Đức Tin Công giáo đều bị chi phối bởi Giáo luật.
Điều này có lúc đã tạo thành những tranh luận khi xét về trường hợp một người đã được rửa tội trong các giáo phái Kitô giáo khác không phải là Giáo hội Công giáo. Theo Bộ luật 1917, họ bị coi như những người công giáo đang bị chế tài, vì không được hưởng đầy đủ quyền lợi qui định theo luật. Bộ Luật 1983 đã tu chính lại điểm này qua điều 11: "Các luật thuần túy Giáo Hội, bó buộc những người đã được rửa tội trong Giáo Hội Công Giáo, hay đã được tiếp nhận vào Giáo Hội Công Giáo."
Nói về Giáo Hội, Hiến chế Ánh Sáng Muôn Dân (Lumen Gentium) đã viết: "Chúa Kitô, Đấng trung gian duy nhất, đã thiết lập Giáo Hội thánh thiện, một cộng đoàn của đức tin, đức cậy và đức mến, như một cơ cấu hữu hình trên trần gian mà Người không ngừng bảo vệ qua Giáo Hội. Người đổ tràn chân lý và ân sủng cho mọi người. Giáo Hội là một tổ chức theo thể chế phẩm trật. Nhiệm thể Chúa Kitô là nhiệm thể hữu hình và cộng đoàn thiêng liêng, là Giáo Hội tại thế chứa đựng dư tràn của cải trên trời. Giáo hội tại thế và Giáo hội trên trời không được quan niệm như hai thực thể, nhưng chỉ là một thực thể phức tạp, duy nhất, do yếu tố nhân loại và thần linh kết thành . . . Như một xã hội được thiết lập qui củ trong cơ cấu hữu hình của Giáo hội trên trần gian. Giáo Hội ấy chính là Giáo Hội Công Giáo” (LG 8)