Mảnh Xương Khô Trong SaMạc
Người Phật tử và Phật Pháp
Ðây không phải là một trình tự về Giáo lý Phật Giáo, mà chỉ là một tóm tắt những buổi nói chuyện với một vài Phật Tử, đề cập đến một vài điểm Giáo lý Phật Giáọ
"Phật Giáo" không phải là một tôn giáo, hiểu theo nghĩa người ta thường hiểu về danh từ "tôn giáo" kể cả ở Ðông Phương và Tây Phương. Ðó cũng không phải là một triết thuyết, điều mà người ta thường gọi là triết thuyết Phật Giáo chính là một giải thích dưới khía cạnh triết lý về Giáo lý của Ðức Phật.
Thượng Tọa Thích Minh Châu, một trong những học giả về Phật Pháp, sinh năm 1920. Ông đã nghiên cứu Kinh Phật, tìm hiểu và tốt nghiệp chuyên môn về Phật tại Học viện Nalenda Pali Research Institute trong hệ thống Ðại Học Bilhar, Ấn Ðộ Hiện nay ông là Viện Trưởng Viện Ðại Học Vạn Hạnh, Sài gòn. Với chữ "Thích" trong pháp danh của ông, người ta có thể biết rằng ông là một nhà tu hành Phật Giáo, một Giáo sĩ Phật Giáo.
Giáo lý Phật Giáo không tin có Chúa Ông đã nói: "Chúng tôi không xác định, cũng không từ khước sự hiện diện của Thiên Chúa!".
Tôi đã lý luận với ông rằng: "Những người Kitô Giáo và những người Phật Tử đều tin rằng việc thiện đem đến những điều tốt và khen thưởng, việc ác đem đến những điều xấu và hình phạt. Ðây là một luật lệ bất di bất dịch cả hai bên đều chấp nhận. Theo ông, ai đã đặt ra những điều luật này."
Ông trả lời: "Không ai làm ra luật đó cả, tự nhiên nó có, đó là luật tự nhiên."
Tôi nói: "Nhưng chắc chắn phải có Ðấng làm ra "tự nhiên"."
Ông nói: "Không ai làm ra "tự nhiên" được, đó là một tiến trình tự nhiên của các nguyên tố hay năng lực".
Một Giáo sĩ Phật Giáo khác: Thượng tọa Thích Minh Trực, Chủ tịch Hội Phật Giáo miền Nam Việt nam đã cho tôi biết:
"Ðức Phật không bao giờ nói về Thiên Chúa, cũng không bao giờ nói về một Ðấng Sáng Tạọ Vũ trụ được tạo thành do các nguyên tổ".
Tôi đã hỏi ông rằng theo ý của ông, ai đã làm ra luật để thưởng hay phạt cho thiện và ác. Ông cho rằng không có luật hay tòa án nào cả, chỉ có vấn đề nhân quả. Không ai có thể xét định việc thiện và ác theo sau một hành động.
Một học giả Phật Tử, Ông Mai thọ Truyền đã nói chuyện với tôi về lòng nhân từ, lòng thương và tình yêu thiêng liêng. Nhưng ông không tin có một Ðấng thiêng liêng nào đó nhân từ thương xót và nhân hậụ
Trong khi những Phật Tử có kiến thức có vẻ như bất khả tri (agnostic) và không tin có thần thánh (atheistic), còn lại đại đa số các Phật Tử đều tin có một Ðấng thiêng liêng. Thượng Tọa Thích Minh Châu cho biết rằng đa số các Phật Tử đều tôn thờ Ðức Phật. Nhưng Ðức Phật cho rằng Ngài chỉ là một người hướng dẫn đã được giác ngộ.
Tiếp theo câu chuyện, tôi đề cập với Thượng Tọa Thích Minh Châu về vấn đề cho rằng cả người Kitô giáo và Phật Tử đều tin rằng sự chết của thân xác không phải là sự chấm dứt của một con người mà sẽ có một đời sống sau đó nữạ Có phải Phật Pháp cho rằng "chính con người ấy", sẽ được tái sinh dưới hình thái một con người khác hay một sinh vật khác.
Ông nói: "Cùng một người đó sẽ tái sinh nhưng không giống như trước. Cùng là người đó nghĩa là sẽ gánh những hậu quả do những việc đã làm. Không giống như trước bởi vì sau khi tái sinh, người ấy cần được đem đến một môi trường, khác với môi trường đã sống trước đó, để khỏi bị ảnh hưởng của môi trường cũ."
Người sáng lập ra Phật Pháp là một Hoàng tử Ấn Ðộ tên là Gautama, sống vào khoảng thế kỷ thứ Sáu Trước Chúa Giáng sinh. Ông bỏ vợ và con, đi tìm một con đường giải thoát khỏi sự đau khổ. Sau năm năm trầm tư suy niệm, ông nhận được ơn soi sáng, cho biết rằng tất cả những đau đớn khổ sở đều phát sinh từ những ước muốn. Sau đó, Ngài dạy mọi người một phương thế tự chủ lấy mình cả về tình cảm lẫn hành động, để hãm dẹp những ham muốn. Cứu cánh của việc tự chủ này là để đạt được một trạng thái thoát tục, không lệ thuộc ham muốn khao khát.
Từ đó, người ta gọi Ngài là Phật (Buđha) có nghĩa là người đã được giác ngộ. Ngài không lập một giáo hội nào cả. Có một nhóm người sống theo lối sống của Ngài là nhóm Sangha hay nhóm tu sĩ sống theo lời khuyên của Phật trong các đền thờ hay chùa chiền. Không có một sách vở giáo lý hay di tích nào của Phật. Những người sống theo lối sống của Ngài, xưng tụng Ngài là Ðức Phật (Lord Buddha). Người ta đắp tượng Ðức Phật đang ngồi trong tư thế trầm tư suy niệm, để tôn kính ở nhà tư hay chùa chiền…
Ngày nay có nhiều phái Phật Pháp, hai ngành chính là Tiểu Thừa (Theravada) và Ðại Thừa (Mahayana) trong hai ngành này có nhiều nghi thức tôn kính khác nhà Tiểu Thừa phát triển tại vùng Ðông Nam Á Châu, từ Miến Ðiện, Sri Lanka sang tới Sài-gòn. Ðại Thừa phát triển tại vùng Bắc của Sài-gòn sang tới Nhật Bản.
Tiểu thừa coi như còn gần với nguyên thủy. Ðại thừa rộng rãi và uyển chuyển hơn. Trong cả hai phái đều có những Phật tử rất khắt khe trong việc ăn uống. Một số Phật tử này không bao giờ ăn thịt hay uống rượu. Tu sĩ và Giáo sĩ của phái Tiểu Thừa mặc áo cà sa màu vàng, trong khi Tu sĩ và Giáo sĩ của phái Ðại Thừa mặc áo cà sa màu nâu.
* Ðoạn văn này đã được gửi đến Thượng Tọa Thích Minh Châu để kiểm duyệt, Ông chỉ sửa lại một vài điểm nhỏ. Ông còn cho biết rằng đây là một đoạn văn diễn tả chính xác nhất về tư tưởng của ông.